Hội Chợ Nghệ Thuật tại Paris - Đặng Tiến
Hội Chợ Quốc Tế Nghệ Thuật Đương Đại tại Paris, dịch từ tiếng Pháp : Foire Internationale de l’Art Contemporain, gọi tắt là FIAC, đã lừng danh trong giới nghệ thuật thế giới từ ba thập niên nay. Mở cửa từ 21 đến 25 tháng 10-2004, tại Porte de Versailles, Hội Chợ thu hút khoảng 100.000 người xem, coi như là thành công mỹ mãn.
Hội Chợ FIAC đã trải qua nhiều năm èo uột, trước sự cạnh tranh lớn mạnh của những tổ chức tương đương như Bâle, Cologne, và nhất là hội Frieze non trẻ vừa mới thành lập tại Luân Đôn. Sau cuộc triển lãm chao đảo năm ngoái, hội chợ đã cách tân tổ chức, mở rộng ban quản lý hướng về quốc tế và giới trẻ, mời ba Jennenifer Flay, một chủ phòng tranh (gallery), 45 tuổi làm giám đốc nghệ thuật, huy động sự tham gia tích cực của nhiều chủ phòng tranh khác. Nhờ đó kỳ triển lãm năm nay bề thế, phong phú, trẻ trung, đa dạng hơn trước.
Thành phần tham dự gồm có 214 gallery, phân nửa là ngoại quốc đến từ 23 quốc gia Âu, Mỹ và Á Châu ; 95 phòng tranh mới gia nhập FIAC và 68 tham dự lần đầu ; khoảng 1300 họa sĩ trưng bày 10.000 tác phẩm.
Nét trẻ trung hiện rõ : một khu mới thành lập tên là Future Quake, mượn ý của nhà thơ André Breton : mỗi tác phẩm là một rúng động tương lai, dành cho những gallery quốc tế không quá ba tuổi đời, tổng số là 20 phòng tranh trẻ đến từ 10 nước ; cu thể họ « trẻ » ở giá cả : giá tranh không vượt quá 5.000 Euros, và nhất là trẻ ở cái nhìn, sức sống và tham vọng cách tân nghệ thuật và xã hội văn hóa.
Nét mới mẻ khác là ban tổ chức đã dũng cảm đưa vào một cuộc triển lãm Mỹ Thuật những tác phẩm Thiết Kế (Design), lần đầu tiên trong một Hội Chợ Quốc Tế. Trong tiếng Pháp, Design là một từ mới, mượn từ tiếng Anh Mỹ trong thập niên 60 ; trong tiếng Việt chữ thiết kế xưa kia có nghĩa : thiết lập một kế hoạch, ngày nay, ở đây, tương đương với từ « mỹ nghệ » - nói cho dễ hiểu. Còn đưa ra một định nghĩa đầy đủ thì sẽ dài dòng rối rắm. Ví dụ : tạo nên một kiểu bàn ghế mới mẻ, thẩm mỹ là thiết kế. Dĩ nhiên là khái niệm không mới, nhưng đã thành thời thượng. Vì công nghiệp phát triển, sản xuất ồ ạt các vật dụng, nên con người đòi hỏi nét thẩm mỹ, ở các đồ vật, ngoài chức năng duy dụng của nó. Với người Á Đông, cái gọi là design lại càng không mới : cái tủ chè (tủ thờ), lọ Bát Tràng, cái gáo dừa đặt trên lu nước, là « thiết kế » ; bác phó mộc trong vở kịch Giao Thừa (1950) của Vũ Khắc Khoan, đêm trừ tịch ra vào băn khoăn : sao không đóng cái bàn ba chân, là một « designer ». Gần đây, trong một cuốn sách cực kỳ thâm trầm và uyên bác, học giả Lê Thành Khôi đã dõng dạc gạt bỏ thành kiến Âu Tây phân biệt, và đề cao mỹ thuật (beaux arts) hạ thấp mỹ nghệ, xem như là kỹ thuật trang trí (arts décoratifs), một nhu cầu thứ cấp [1]. Hiện nay, viện bảo tàng Guimet, Paris, đang trưng bày, để vinh danh nghệ thuật tơ lụa Á Châu và ông Vincent Lefèvre, quản thủ bảo tàng, đã tuyên bố « bên Châu Á, không có dị biệt giữa Mỹ nghệ và Mỹ thuật, không có khái niệm đó » [2].
Thế nhưng Hội Chợ FIAC năm nay mở của cho 10 gian hàng thiết kế, đã cho là một cách tân quan niệm nghệ thuật – và gây tranh luận.
Cả một tầng lầu rộng được dành cho 11 nhà xuất bản Mỹ Thuật, trưng bày nhiều kỹ thuật in ấn mới, dùng chất liệu mới làm nền, những khoa khắc họa, thủ ấn họa, tranh điệp bản, tạo nhiều thử nghiệm mới cho họa sĩ, đồng thời đưa tác phẩm nghệ thuật đến một quần chúng rộng rãi hơn. Người xem ghi nhận sự tham gia lần đầu của phòng tranh New Yorkaise Volume, chuyên in sách hội họa.
Một cái đinh của Hội Chợ là khu dành cho những sáng tạo quốc tế hiện hành, dưới tên Viễn Tượng. 33 phòng tranh, đa số là nước ngoài trình bày nhiều dự án táo bạo, độc đáo, những triển lãm chuyên đề hay cá nhân, phục vụ riêng cho Hội Chợ. Các tác giả đã biểu hiện qua nhiều phương thức, từ truyền thống đến kỹ thuật tiền tiến.
Nói chung là cuộc triển lãm có nét trẻ trung. Bộ trưởng Văn Hóa Pháp, trả lời AFP đã chào mừng địa vị đặc biệt dành cho các phòng tranh thật trẻ, và sự hội nhập của thiết kế, chứng tỏ tinh thần cởi mở đón nhận mọi hình thái sáng tạo !
*
Tôi là lãng tử nhàn du, tình cờ lạc bước đến Hội Chợ Tranh. Không mấy thông thạo về nghệ thuật đương đại, về tư trào, trường phái, xu hướng, tôi lang bang trong Chợ Tranh như đi xem hoa Chợ Tết. Tìm cái đẹp chủ quan, tình cờ.
Tôi là kẻ mộ điệu văn thơ, xem tranh để tìm cảm xúc và kỷ niệm, truy tầm « trong họa có thơ » như ở thơ, họa Vương Duy.
Tôi là người Á Đong chậm tiến, đi vào nơi đô hội Paris để xem « có gì mới lạ ở Phương Tây ». Vớ vẩn như thế mà cũng đi hai ngày rạc cả người.
Bước vào đại sảnh, là gặp ngay tranh Cao Hành Kiện, người Trung Quốc đoạt giải Nobel Văn Học 2000. Một phòng tranh bề thế, độc diễn và độc đáo, tác phẩm lớn nhỏ đủ cỡ : tranh toàn mực nho đen xám trên giấy bản, nhất quán, trang nghiêm, có phần khắc khổ. Báo Figaro 22-10 đã ghi nhận « tầm nhìn hướng nội, gạt bỏ mọi thực tế, mọi rung cảm, mọi duy ngã… Nghệ thuật Cao là một thăng hoa của trí tuệ. Người xem chìm đắm trong một nghệ thuật đương đại nhiều khi thô bạo ». Nhưng các báo khác không mấy đề cập. Tranh bán rất chạy, giá từ 4.000 đến 50.000 €, không rõ khách mua tác phẩm nghệ thuật hay mua Ngài Nobel Quận Vương, được quảng cáo « một Nobel tại FIAC » (!).
Bước thêm mấy bước thì gặp gian tranh của nhà thơ Henri Michaux (1899-1984), cũng mực nho trên nền giấy bản, nhưng tươi tắn hơn nhờ có pha màu son và màu nước. Cũng là một « thăng hoa » trí tuệ, nhưng trang nhã, nhẹ nhàng, thi vị. Galerie Thessa Herold, Paris ấn hành một tuyển tập tranh Michaux in đẹp, và nhân một cuộc triển lãm năm 1997, đã xuất bản cuốn « Họa Phẩm của Thi nhân – Thơ của Họa Sĩ » [3], đối chiếu tranh và thơ của những nghệ sĩ vừa vẽ vừa làm thơ, thường thường là trong các tư trào tiên tiến, như Michaux, Charchoune, Bryen… Tranh đẹp và thơ hay, in đẹp trên giấy quý và giá rẻ. Tham lam tôi gạ : nếu tôi dịch và in lại tại Việt Nam, ông bà có cho phép ? Chủ nhân vui lòng ưng thuận, với điều kiện là phải xin phép nhà xuất bản Gallimard về một số thơ Michaux – đieu này không khó vì người thừa kế có quan hệ huyết thống với Việt Nam. Chủ nhân còn tặng tôi nhiều sách quý – gọi là tỏ chút tình tri kỷ.
Trong việc nghiên cứu văn học, tôi thường phải quan tâm đến phong trào Siêu Thực. Mới đây có cô sinh viên Huế được học bổng sang Paris làm luận án về đề tài này. Giáo sư hướng dẫn gợi ý : nghiên cưú về ảnh hưởng tư trào Dada trên trào lưu Siêu Thực. Một luận đề hóc búa ngay cho sinh viên Pháp. Toi ghé phòng tranh 1900-2000 Paris, chuyên về tranh hai trào lưu này, và kể chuyện với ông giám đốc Marcel Fleiss. Ông bảo « đừng lo, cứ bảo cô ấy đến galerie ; tư liệu, sách báo gì gì tôi cũng có, tôi sẽ mách, còn ở đây la Hội Chợ… » Ông đang rối rít tiếp khách hàng, ái ngại nhìn tôi, rồi cúi xuống hộc bàn, lôi ra cuốn sách tranh « Phần Trò Chơi trong Tranh Siêu Thực (2004)» [4] tặng tôi, để « về nhà mà nghiên cứu ». Ông Fleiss là thành viên ban quản đốc Hội Chợ, làm ủy viên tuyển lựa.
*
Đi ngang hàng vạn tác phẩm, trên 26.000 mét vuông, muôn màu muôn vẻ, và bấy nhiêu phong cách thì không có cách gì kể lại đầy đủ. Chúng tôi chỉ ghi nhận tính cách trẻ trung, mới mẻ của Hội Chợ, khả năng cách tân của một cơ chế sau ba mươi năm truyền thống. Cách tân để thích nghi và tồn tại, trong một thị trường khe khắt và cuộc sống không khoan nhượng. Các phòng tranh Việt Nam có lẽ cung nên tham dự, để ta biết người, và cho người biết ta. Giá thuê một gian hàng, trung bình khoảng 7.000 €.
Điều tôi muốn ghi nhận, một cách đùa vui, là thái độ văn hóa của các chủ nhân Gallery. Họ làm thương mãi, nhưng không chăm chăm vào việc mua rẻ bán đắt, chặn đầu chặn đuôi. Họ là kẻ khám phá tài năng, sau đó theo dõi, bảo quản tài năng, phát triển hướng mới, gìn giữ truyền thống, bắc cầu giữa các trào lưu, khu vực, bộ môn. Họ là những đoản đình, trường đình trên con đường giữa nghệ sĩ sáng tác và các bảo tàng lưu trữ : họ la môi giới giữa cái phôi thai, cái phôi pha và cái vĩnh cửu. Họ là khâu cốt yếu trong xã hội nghệ thuật. Các gallery tại Việt Nam mọc ra như nấm, cũng nên suy ngẫm về vai trò của mình, đối với họa sĩ và quần chúng, trong và ngoài nước.
Danh từ gallery ở phương Tây, nghĩa gốc là hành lang, hay mái hiên – là một lối đi. Đi từ nơi này đến chốn kia. Từ nghệ sĩ đến quần chúng, từ họa thất đến tư gia. Galerie d’Art, Art Gallery, dịch là « Hiên Nghe Thuật », nghe lạ tai, nhưng có lẽ hàm súc.
Đặng Tiến
01.11.2004
[1] Lê Thành Khôi, Un Désir de Beauté, tr. 15, Nxb Horizon du Monde, Paris 2000, Có bản tiếng Anh A desire of Beauty.
[2] Le Monde, ngày 4.11.04. Triển lãm đến 7/2/2005
[3] Peintures de Poetes, pomes de Peintres, Galerie Thessa Herold, Paris. Xem thêm, đến tháng 1/2005, Bảo tàng Mỹ Thuật Caen, vinh danh Jean Tardieu ; và sách Fréderique Martin Scherrer : « Lire la Peinture, voir La Poesie : Jean Tardieu et les Arts ». Nhà thơ nhà văn Jean Tardieu (1903-1995) là con trai họa sĩ Victor Tardieu (1870-1937), giám đốc sáng lập trường Mỹ Thuật Đông Dương, Hà Nội. Sách có nhiều tư liệu, hình tranh về Victor Tardieu, viết hay, in đẹp, giá 45 €. Nxb Imec, 2004, Paris.
[4] La Part du Jeu dans le Surréalisme, Galerie 1900-2000, 2004, Paris
Hội Chợ FIAC đã trải qua nhiều năm èo uột, trước sự cạnh tranh lớn mạnh của những tổ chức tương đương như Bâle, Cologne, và nhất là hội Frieze non trẻ vừa mới thành lập tại Luân Đôn. Sau cuộc triển lãm chao đảo năm ngoái, hội chợ đã cách tân tổ chức, mở rộng ban quản lý hướng về quốc tế và giới trẻ, mời ba Jennenifer Flay, một chủ phòng tranh (gallery), 45 tuổi làm giám đốc nghệ thuật, huy động sự tham gia tích cực của nhiều chủ phòng tranh khác. Nhờ đó kỳ triển lãm năm nay bề thế, phong phú, trẻ trung, đa dạng hơn trước.
Thành phần tham dự gồm có 214 gallery, phân nửa là ngoại quốc đến từ 23 quốc gia Âu, Mỹ và Á Châu ; 95 phòng tranh mới gia nhập FIAC và 68 tham dự lần đầu ; khoảng 1300 họa sĩ trưng bày 10.000 tác phẩm.
Nét trẻ trung hiện rõ : một khu mới thành lập tên là Future Quake, mượn ý của nhà thơ André Breton : mỗi tác phẩm là một rúng động tương lai, dành cho những gallery quốc tế không quá ba tuổi đời, tổng số là 20 phòng tranh trẻ đến từ 10 nước ; cu thể họ « trẻ » ở giá cả : giá tranh không vượt quá 5.000 Euros, và nhất là trẻ ở cái nhìn, sức sống và tham vọng cách tân nghệ thuật và xã hội văn hóa.
Nét mới mẻ khác là ban tổ chức đã dũng cảm đưa vào một cuộc triển lãm Mỹ Thuật những tác phẩm Thiết Kế (Design), lần đầu tiên trong một Hội Chợ Quốc Tế. Trong tiếng Pháp, Design là một từ mới, mượn từ tiếng Anh Mỹ trong thập niên 60 ; trong tiếng Việt chữ thiết kế xưa kia có nghĩa : thiết lập một kế hoạch, ngày nay, ở đây, tương đương với từ « mỹ nghệ » - nói cho dễ hiểu. Còn đưa ra một định nghĩa đầy đủ thì sẽ dài dòng rối rắm. Ví dụ : tạo nên một kiểu bàn ghế mới mẻ, thẩm mỹ là thiết kế. Dĩ nhiên là khái niệm không mới, nhưng đã thành thời thượng. Vì công nghiệp phát triển, sản xuất ồ ạt các vật dụng, nên con người đòi hỏi nét thẩm mỹ, ở các đồ vật, ngoài chức năng duy dụng của nó. Với người Á Đông, cái gọi là design lại càng không mới : cái tủ chè (tủ thờ), lọ Bát Tràng, cái gáo dừa đặt trên lu nước, là « thiết kế » ; bác phó mộc trong vở kịch Giao Thừa (1950) của Vũ Khắc Khoan, đêm trừ tịch ra vào băn khoăn : sao không đóng cái bàn ba chân, là một « designer ». Gần đây, trong một cuốn sách cực kỳ thâm trầm và uyên bác, học giả Lê Thành Khôi đã dõng dạc gạt bỏ thành kiến Âu Tây phân biệt, và đề cao mỹ thuật (beaux arts) hạ thấp mỹ nghệ, xem như là kỹ thuật trang trí (arts décoratifs), một nhu cầu thứ cấp [1]. Hiện nay, viện bảo tàng Guimet, Paris, đang trưng bày, để vinh danh nghệ thuật tơ lụa Á Châu và ông Vincent Lefèvre, quản thủ bảo tàng, đã tuyên bố « bên Châu Á, không có dị biệt giữa Mỹ nghệ và Mỹ thuật, không có khái niệm đó » [2].
Thế nhưng Hội Chợ FIAC năm nay mở của cho 10 gian hàng thiết kế, đã cho là một cách tân quan niệm nghệ thuật – và gây tranh luận.
Cả một tầng lầu rộng được dành cho 11 nhà xuất bản Mỹ Thuật, trưng bày nhiều kỹ thuật in ấn mới, dùng chất liệu mới làm nền, những khoa khắc họa, thủ ấn họa, tranh điệp bản, tạo nhiều thử nghiệm mới cho họa sĩ, đồng thời đưa tác phẩm nghệ thuật đến một quần chúng rộng rãi hơn. Người xem ghi nhận sự tham gia lần đầu của phòng tranh New Yorkaise Volume, chuyên in sách hội họa.
Một cái đinh của Hội Chợ là khu dành cho những sáng tạo quốc tế hiện hành, dưới tên Viễn Tượng. 33 phòng tranh, đa số là nước ngoài trình bày nhiều dự án táo bạo, độc đáo, những triển lãm chuyên đề hay cá nhân, phục vụ riêng cho Hội Chợ. Các tác giả đã biểu hiện qua nhiều phương thức, từ truyền thống đến kỹ thuật tiền tiến.
Nói chung là cuộc triển lãm có nét trẻ trung. Bộ trưởng Văn Hóa Pháp, trả lời AFP đã chào mừng địa vị đặc biệt dành cho các phòng tranh thật trẻ, và sự hội nhập của thiết kế, chứng tỏ tinh thần cởi mở đón nhận mọi hình thái sáng tạo !
*
Tôi là lãng tử nhàn du, tình cờ lạc bước đến Hội Chợ Tranh. Không mấy thông thạo về nghệ thuật đương đại, về tư trào, trường phái, xu hướng, tôi lang bang trong Chợ Tranh như đi xem hoa Chợ Tết. Tìm cái đẹp chủ quan, tình cờ.
Tôi là kẻ mộ điệu văn thơ, xem tranh để tìm cảm xúc và kỷ niệm, truy tầm « trong họa có thơ » như ở thơ, họa Vương Duy.
Tôi là người Á Đong chậm tiến, đi vào nơi đô hội Paris để xem « có gì mới lạ ở Phương Tây ». Vớ vẩn như thế mà cũng đi hai ngày rạc cả người.
Bước vào đại sảnh, là gặp ngay tranh Cao Hành Kiện, người Trung Quốc đoạt giải Nobel Văn Học 2000. Một phòng tranh bề thế, độc diễn và độc đáo, tác phẩm lớn nhỏ đủ cỡ : tranh toàn mực nho đen xám trên giấy bản, nhất quán, trang nghiêm, có phần khắc khổ. Báo Figaro 22-10 đã ghi nhận « tầm nhìn hướng nội, gạt bỏ mọi thực tế, mọi rung cảm, mọi duy ngã… Nghệ thuật Cao là một thăng hoa của trí tuệ. Người xem chìm đắm trong một nghệ thuật đương đại nhiều khi thô bạo ». Nhưng các báo khác không mấy đề cập. Tranh bán rất chạy, giá từ 4.000 đến 50.000 €, không rõ khách mua tác phẩm nghệ thuật hay mua Ngài Nobel Quận Vương, được quảng cáo « một Nobel tại FIAC » (!).
Bước thêm mấy bước thì gặp gian tranh của nhà thơ Henri Michaux (1899-1984), cũng mực nho trên nền giấy bản, nhưng tươi tắn hơn nhờ có pha màu son và màu nước. Cũng là một « thăng hoa » trí tuệ, nhưng trang nhã, nhẹ nhàng, thi vị. Galerie Thessa Herold, Paris ấn hành một tuyển tập tranh Michaux in đẹp, và nhân một cuộc triển lãm năm 1997, đã xuất bản cuốn « Họa Phẩm của Thi nhân – Thơ của Họa Sĩ » [3], đối chiếu tranh và thơ của những nghệ sĩ vừa vẽ vừa làm thơ, thường thường là trong các tư trào tiên tiến, như Michaux, Charchoune, Bryen… Tranh đẹp và thơ hay, in đẹp trên giấy quý và giá rẻ. Tham lam tôi gạ : nếu tôi dịch và in lại tại Việt Nam, ông bà có cho phép ? Chủ nhân vui lòng ưng thuận, với điều kiện là phải xin phép nhà xuất bản Gallimard về một số thơ Michaux – đieu này không khó vì người thừa kế có quan hệ huyết thống với Việt Nam. Chủ nhân còn tặng tôi nhiều sách quý – gọi là tỏ chút tình tri kỷ.
Trong việc nghiên cứu văn học, tôi thường phải quan tâm đến phong trào Siêu Thực. Mới đây có cô sinh viên Huế được học bổng sang Paris làm luận án về đề tài này. Giáo sư hướng dẫn gợi ý : nghiên cưú về ảnh hưởng tư trào Dada trên trào lưu Siêu Thực. Một luận đề hóc búa ngay cho sinh viên Pháp. Toi ghé phòng tranh 1900-2000 Paris, chuyên về tranh hai trào lưu này, và kể chuyện với ông giám đốc Marcel Fleiss. Ông bảo « đừng lo, cứ bảo cô ấy đến galerie ; tư liệu, sách báo gì gì tôi cũng có, tôi sẽ mách, còn ở đây la Hội Chợ… » Ông đang rối rít tiếp khách hàng, ái ngại nhìn tôi, rồi cúi xuống hộc bàn, lôi ra cuốn sách tranh « Phần Trò Chơi trong Tranh Siêu Thực (2004)» [4] tặng tôi, để « về nhà mà nghiên cứu ». Ông Fleiss là thành viên ban quản đốc Hội Chợ, làm ủy viên tuyển lựa.
*
Đi ngang hàng vạn tác phẩm, trên 26.000 mét vuông, muôn màu muôn vẻ, và bấy nhiêu phong cách thì không có cách gì kể lại đầy đủ. Chúng tôi chỉ ghi nhận tính cách trẻ trung, mới mẻ của Hội Chợ, khả năng cách tân của một cơ chế sau ba mươi năm truyền thống. Cách tân để thích nghi và tồn tại, trong một thị trường khe khắt và cuộc sống không khoan nhượng. Các phòng tranh Việt Nam có lẽ cung nên tham dự, để ta biết người, và cho người biết ta. Giá thuê một gian hàng, trung bình khoảng 7.000 €.
Điều tôi muốn ghi nhận, một cách đùa vui, là thái độ văn hóa của các chủ nhân Gallery. Họ làm thương mãi, nhưng không chăm chăm vào việc mua rẻ bán đắt, chặn đầu chặn đuôi. Họ là kẻ khám phá tài năng, sau đó theo dõi, bảo quản tài năng, phát triển hướng mới, gìn giữ truyền thống, bắc cầu giữa các trào lưu, khu vực, bộ môn. Họ là những đoản đình, trường đình trên con đường giữa nghệ sĩ sáng tác và các bảo tàng lưu trữ : họ la môi giới giữa cái phôi thai, cái phôi pha và cái vĩnh cửu. Họ là khâu cốt yếu trong xã hội nghệ thuật. Các gallery tại Việt Nam mọc ra như nấm, cũng nên suy ngẫm về vai trò của mình, đối với họa sĩ và quần chúng, trong và ngoài nước.
Danh từ gallery ở phương Tây, nghĩa gốc là hành lang, hay mái hiên – là một lối đi. Đi từ nơi này đến chốn kia. Từ nghệ sĩ đến quần chúng, từ họa thất đến tư gia. Galerie d’Art, Art Gallery, dịch là « Hiên Nghe Thuật », nghe lạ tai, nhưng có lẽ hàm súc.
Đặng Tiến
01.11.2004
[1] Lê Thành Khôi, Un Désir de Beauté, tr. 15, Nxb Horizon du Monde, Paris 2000, Có bản tiếng Anh A desire of Beauty.
[2] Le Monde, ngày 4.11.04. Triển lãm đến 7/2/2005
[3] Peintures de Poetes, pomes de Peintres, Galerie Thessa Herold, Paris. Xem thêm, đến tháng 1/2005, Bảo tàng Mỹ Thuật Caen, vinh danh Jean Tardieu ; và sách Fréderique Martin Scherrer : « Lire la Peinture, voir La Poesie : Jean Tardieu et les Arts ». Nhà thơ nhà văn Jean Tardieu (1903-1995) là con trai họa sĩ Victor Tardieu (1870-1937), giám đốc sáng lập trường Mỹ Thuật Đông Dương, Hà Nội. Sách có nhiều tư liệu, hình tranh về Victor Tardieu, viết hay, in đẹp, giá 45 €. Nxb Imec, 2004, Paris.
[4] La Part du Jeu dans le Surréalisme, Galerie 1900-2000, 2004, Paris
0 Comments:
Post a Comment
<< Home